E-learning


Chào mừng tới diễn đàn của lớp 12a6 THPT Minh Khai.
Xin mời bạn đăng nhập vào diễn đàn, nếu bạn chưa là thành viên xin ấn đăng ký. Sau khi đã đăng ký bạn sẽ có thêm nhiều quyền hạn trong diễn đàn và có thể đăng bài ngay
Mọi thắc mắc xin liên lạc với Admin.


Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427)

Share
avatar
happyboy1992
Người bí ẩn
Người bí ẩn

Nam
Tổng số bài gửi : 711
Age : 24
Đến từ : MK
Nghề : Học sinh
Trường : Minh Khai
Registration date : 22/08/2007

Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427)

Bài gửi by happyboy1992 on 18/4/2008, 7:27 pm

Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) là
cuộc khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh xâm lược về nước do Lê Lợi lãnh đạo
và kết thúc bằng việc giành lại độc lập cho nước Đại Việt và sự thành
lập nhà Hậu Lê.
Khởi nghĩa Lam Sơn gồm ba giai đoạn lớn: hoạt động
ở vùng núi Thanh Hoá (1418-1423), tiến vào phía nam (1424-1425) và giải
phóng Đông Quan (1426-1427).

Bối cảnh

Khởi nghĩa Lam Sơn nổ ra trong bối cảnh rất khó khăn. Nhiều cuộc
nổi dậy chống Minh, điển hình là nhà Hậu Trần, đã bị dẹp một cách tàn
khốc. Liên tiếp 2 vua nhà Hồ, một vua nhà Hậu Trần bị bắt về bắc, vua
Trùng Quang và các tướng đều tử tiết. Trương Phụ tàn sát những người
lính theo quân khởi nghĩa và cả dân thường rất tàn bạo (chặt đầu, đốt
xác, cuốn ruột vào cây...) để khủng bố tinh thần người Việt. Mặt khác,
các tướng nhà Minh như Hoàng Phúc, Trương Phụ đã thiết lập bộ máy cai
trị và huy động được một lực lượng người Việt giúp việc khá đắc lực như
Mạc Thuý, Lương Nhữ Hốt, Trần Phong... Tinh thần chống đối của người
Việt lúc đó đã lắng xuống khá nhiều so với thời nhà Hồ mới mất. Một lớp
nhân tài nổi lên chống đối trước đây đã bị tiêu diệt hoặc vô hiệu hoá.
Một số cuộc khởi nghĩa chống Minh vẫn hoạt động nhưng lẻ tẻ và không có
khả năng mở rộng.
Trong bối cảnh đó, Lê Lợi đã đứng lên khởi nghĩa ở Lam Sơn, đúng như Nguyễn Trãi viết trong Bình Ngô đại cáo:
Vừa khi cờ nghĩa dấy lênChính lúc quân thù đang mạnh... Tuấn kiệt như sao buổi sớmNhân tài như lá mùa thu
Hoạt động ở vùng núi Thanh Hoá

Mùa xuân năm Mậu Tuất 1418, Lê Lợi đã cùng những hào kiệt, đồng
chí hướng như Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Lê Văn An, Lê Sát, Lưu Nhân
Chú... tất cả 19 tướng văn và tướng võ chính thức phất cờ khởi nghĩa
Lam Sơn, xưng là Bình Định Vương, kêu gọi dân Việt đồng lòng đứng lên
đánh quân xâm lược nhà Minh cứu nước.
Thời kỳ hoạt động ở vùng núi Thanh Hóa là giai đoạn khó khăn nhất của
cuộc khởi nghĩa. Trong thời gian đầu, lực lượng của quân Lam Sơn chỉ có
vài ngàn người, lương thực thiếu thốn, thường chỉ thắng được vài trận
nhỏ và hay bị quân Minh đánh bại.
Bị quân Minh vây đánh nhiều trận, quân Lam Sơn khốn đốn ba lần phải rút
chạy lên núi Chí Linh những năm 1418, 1419, 1422 và một lần cố thủ ở
Sách Khôi năm 1422. Một lần bị địch vây gắt ở núi Chí Linh (có sách ghi
năm 1418, có sách ghi năm 1419), quân sĩ hết lương, người em họ Lê Lợi
là Lê Lai theo gương Kỷ Tín nhà Tây Hán phải đóng giả làm Lê Lợi, dẫn
quân ra ngoài nhử quân Minh. Quân Minh tưởng là bắt được chúa Lam Sơn
nên lơi lỏng phòng bị, Lê Lợi và các tướng lĩnh thừa cơ mở đường khác
chạy thoát. Lê Lai bị địch giải về Đông Quan và bị giết. (Xem thêm bài
Lê Lai.)
Ngoài quân Minh, Lê Lợi và quân Lam Sơn còn phải đối phó với một bộ
phận các tù trưởng miền núi tại địa phương theo nhà Minh và quân nước
Ai Lao (Lào) bị xúi giục hùa theo. Dù gặp nhiều khó khăn, quân Lam Sơn
mấy lần đánh bại quân Ai Lao có lực lượng đông hơn. Tuy nhiên do lực
lượng chưa đủ mạnh nên Lê Lợi thường cùng quân Lam Sơn phải ẩn náu
trong rừng núi, nhiều lần phải ăn rau củ và măng tre lâu ngày; có lần
ông phải giết cả voi và ngựa chiến của mình để cho tướng sĩ ăn.
Trước tình thế hiểm nghèo, Lê Lợi phải xin giảng hòa với quân Minh năm
1422. Đến năm 1423, khi thực lực được củng cố, lại thấy quân Minh bắt
giữ sứ giả, Lê Lợi liền tuyệt giao cắt đứt giảng hoà.

Tiến vào nam

Theo kế của Nguyễn Chích, năm 1424 Lê Lợi quyết định đưa quân vào
đồng bằng Nghệ An. Tiến vào Nghệ An là một bước ngoặt về chiến thuật
trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
Trên đường đi, quân Lam Sơn hạ thành Đa Căng, đánh lui quân cứu viện
của viên tù trưởng địa phương theo quân Minh là Cầm Bành. Sau đó quân
Lam Sơn đánh thành Trà Long. Tướng Minh là Trần Trí mang quân từ Nghệ
An tới cứu Cầm Bành, bị quân Lam Sơn đánh lui. Lê Lợi vây Cầm Bành, Trí
đóng ngoài xa không dám cứu. Bị vây ngặt lâu ngày, Bành phải đầu hàng.
Lê Lợi sai Đinh Liệt mang quân vào đánh Nghệ An, lại mang quân chủ lực
cùng tiến vào, Trần Trí bị thua liền mấy trận phải rút vào thành cố thủ.
Lý An, Phương Chính từ Đông Quan vào cứu Trần Trí ở Nghệ An, Trí cũng
mang quân ra ngoài đánh. Lê Lợi dùng kế nhử địch đến sông Độ Gia phá
tan. Trần Trí chạy về Đông Quan, còn An và Chính lại chạy vào thành
Nghệ An.
Tháng 5 năm 1425, Lê Lợi lại sai Đinh Lễ đem quân ra đánh Diễn Châu,
quân Minh thua chạy về Tây Đô (Thanh Hoá). Sau đó ông lại điều Lê Sát,
Lưu Nhân Chú, Lê Triện tiếp ứng cho Đinh Lễ đánh ra Tây Đô, quân Minh
ra đánh lại bị thua phải rút vào cố thủ trong thành.
Lê Lợi một mặt siết vòng vây quanh thành Nghệ An và Tây Đô, mặt khác
sai Trần Nguyên Hãn, Doãn Nỗ, Lê Đa Bồ đem quân vào nam đánh Tân Bình,
Thuận Hoá. Tướng Minh là Nhậm Năng ra đánh bị phá tan. Sau Lê Lợi lai
sai Lê Ngân, Lê Văn An mang thủy quân tiếp ứng cho Trần Nguyên Hãn
chiếm đất Tân Bình, Thuận Hoá. Quân Minh phải rút vào cố thủ nốt.
Như vậy đến cuối năm 1425, Lê Lợi làm chủ toàn bộ đất đai từ Thanh Hóa trở vào, các thành địch đều bị bao vây.


------------------------------------------------------------ Chữ ký của tôi ------------------------------------------------------------










Truy cập Công cụ Kiểm Tra Tốc Độ Đánh Máy và thử!
avatar
happyboy1992
Người bí ẩn
Người bí ẩn

Nam
Tổng số bài gửi : 711
Age : 24
Đến từ : MK
Nghề : Học sinh
Trường : Minh Khai
Registration date : 22/08/2007

Re: Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427)

Bài gửi by happyboy1992 on 18/4/2008, 7:27 pm

Giải phóng Đông Quan


Chiến thắng Tốt Động, Chúc Động

Tháng 8 năm 1426, Lê Lợi chia quân cho các tướng làm 3 cánh bắc
tiến. Phạm Văn Xảo, Đỗ Bí, Trịnh Khả, Lê Triện ra phía Tây bắc, Lưu
Nhân Chú, Bùi Bị ra phía Đông bắc; Đinh Lễ, Nguyễn Xí ra đánh Đông Quan.
Lê Triện tiến đến gần Đông Quan gặp Trần Trí kéo ra, liền đánh bại Trí.
Nghe tin viện binh nhà Minh ở Vân Nam sắp sang, Triện chia quân cho
Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả ra chặn quân Vân Nam, còn Triện và Đỗ Bí hợp
với quân Đinh Lễ, Nguyễn Xí đánh Đông Quan.
Quân Vân Nam do Vương An Lão chỉ huy kéo sang. Phạm Văn Xảo phá tan
viện binh Vân Nam. An Lão chạy về cố thủ ở thành Tam Giang. Trần Trí
thấy mất viện binh bèn cầu viện Lý An ở Nghệ An. Lý An và Phương Chính
để Thái Phúc ở lại giữ thành Nghệ An, mang quân vượt biển ra cứu Đông
Quan. Quân Lam Sơn định đón đường ngăn chặn nhưng không được. Lê Lợi
liền giao cho Lê Văn An, Lê Văn Linh vây thành, còn mình kéo đại quân
ra bắc.
Vua Minh sai Vương Thông, Mã Anh mang quân sang tiếp viện. Thông hợp
với quân ở Đông Quan được 10 vạn, chia cho Phương Chính, Mã Kỳ. Lê
Triện, Đỗ Bí đánh bại Mã Kỳ ở Từ Liêm, lại đánh luôn cánh quân của
Chính. Cả hai tướng thua chạy, về nhập với quân Vương Thông ở Cổ Sở. Lê
Triện lại tiến đánh Vương Thông, nhưng Thông đã phòng bị, Triện bị thua
phải rút về Cao Bộ, sai người cầu cứu Nguyễn Xí.
Đinh Lễ, Nguyễn Xí đem quân đến đặt phục binh ở Tốt Động, Chúc Động.
Nhân biết Vương Thông định chia dường đánh úp Lê Triện, hai tướng bèn
tương kế tựu kế dụ Thông vào ổ mai phục Tốt Động[1]. Quân Vương Thông
thua to, Trần Hiệp, Lý Lượng và 5 vạn quân bị giết, 1 vạn quân bị bắt
sống. Thông cùng các tướng chạy về cố thủ ở Đông Quan.
Sử chép ba đạo quân ra bắc của Lê Lợi chỉ có tổng số 9000 người. Các
nhà nghiên cứu cho rằng con số đó chưa chính xác vì các trận đánh của
ba đạo quân này đều có quy mô khá lớn và lực lượng quân Minh sang nhập
vào khá đông, do đó để giành thắng lợi, 3 cánh quân (sau đó lại chia
thành 4) chắc phải đông hơn. Với một vài ngàn người khó đương nổi lực
lượng đông và mạnh của quân Minh như vậy. Căn cứ sách Đại Việt thông
sử, khi quân Minh sắp rút về, Lê Lợi đã bàn với các tướng, đại ý rằng:
quân Lam Sơn hiện có tổng số 25 vạn, ông dự định sẽ cho 15 vạn về làm
ruộng và tuyển lấy 10 vạn làm quân thường trực của triều đình. Qua đó
thì thấy những cánh quân ra bắc phải có một vài vạn mỗi cánh quân.
Lê Lợi được tin thắng trận liền sai Trần Nguyên Hãn, Bùi Bị chia hai đường thủy bộ tiến ra gần Đông Quan.

Lập Trần Cảo

Vương Thông thua chạy không dám ra đánh, viện cớ tìm lại tờ chiếu
của vua Minh Thành Tổ năm 1407 khi đánh nhà Hồ, có nội dung muốn lập
lại con cháu nhà Trần (vì nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần nên Minh Thành Tổ
lấy danh nghĩa lập lại nhà Trần để mang quân sang đánh nhà Hồ, nay
Vương Thông muốn vin vào đó) ra điều kiện với Lê Lợi rằng Thông sẽ rút
về nếu Lê Lợi lập con cháu nhà Trần làm vua.
Lê Lợi vì đại cuộc, muốn quân Minh nhanh chóng rút về nên đồng ý. Ông
sai người tìm được Trần Cảo bèn lập làm vua, còn ông tự xưng là Vệ quốc
công. Theo sử sách, Trần Cảo tên thật là Hồ Ông, tự xưng là cháu nội
vua Trần Nghệ Tông, được tù trưởng châu Ngọc Ma tiến cử với Lê Lợi.
Nhưng theo một số sử gia gần đây, việc Trần Cảo mạo xưng hay thật sự là
con cháu nhà Trần rất khó xác định, có thể chữ "mạo xưng" mà sử sách
ghi là do các sử gia nhà Lê chép vào để giảm uy tín của Cảo.
Vương Thông ngoài mặt giảng hòa nhưng lại sai quân đào hào cắm chông
phòng thủ và mật sai người về xin cứu viện. Lê Lợi biết chuyện liền cắt
đứt giảng hòa.

Vây thành Đông Quan

Sau khi cắt đứt giảng hoà, Lê Lợi sai các tướng đi đánh chiếm các
thành ở Bắc bộ như Điêu Diêu (Thị Cầu, Bắc Ninh), Tam Giang (Tam Đái,
Phú Thọ), Xương Giang (phủ Lạng Thương), Kỳ Ôn, không lâu sau đều hạ
được.
Đầu năm 1427, ông chia quân tiến qua sông Nhị Hà, đóng dinh ở Bồ Đề,
sai các tướng đánh thành Đông Quan. Ông đặt kỷ luật quân đội rất nghiêm
để yên lòng nhân dân. Do đó quân Lam Sơn đi đến các nơi rất được lòng
dân.
Tướng Minh là Thái Phúc nộp thành Nghệ An xin hàng. Lê Lợi sai Thượng
thư bộ Lại là Nguyễn Trãi viết thư dụ địch ở các thành khác ra hàng.
Nhân lúc quân Lam Sơn vây thành có vẻ lơi lỏng, quân Minh ở Đông Quan
ra đánh úp. Lê Triện tử trận ở Từ Liêm, Đinh Lễ và Nguyễn Xí bị bắt ở
Thanh Trì. Sau Đinh Lễ bị giết, Nguyễn Xí trốn thoát được.

Chiến thắng Chi Lăng-Xương Giang

Cuối năm 1427, vua Minh Tuyên Tông điều viện binh cứu Vương Thông,
sai Liễu Thăng mang 10 vạn quân tiến sang từ Quảng Tây; Mộc Thạnh mang
5 vạn quân từ Vân Nam kéo sang. Đây là hai tướng đã từng sang đánh Việt
Nam thời nhà Hồ và nhà Hậu Trần. Theo các nhà nghiên cứu, con số 15 vạn
của cả hai đạo quân có thể là nói thăng lên, trên thực tế nếu cộng số
các đạo quân điều động từ các nơi thì tổng số chỉ có khoảng gần 12 vạn
quân và cánh quân chủ lực là của Liễu Thăng.
Nghe tin có viện binh, nhiều tướng muốn đánh để hạ gấp thành Đông Quan.
Tuy nhiên, theo ý kiến của Nguyễn Trãi, Lê Lợi cho rằng đánh thành lạ
hạ sách vì quân trong thành đông, chưa thể lấy ngay được, nếu bị viện
binh đánh kẹp vào thì nguy; do đó ông quyết định điều quân lên chặn
đánh viện binh trước để nản lòng địch ở Đông Quan.
Đầu tiên, ông ra lệnh dời người ở những vùng địch đi qua như Lạng
Giang, Bắc Giang, Quy Hoá, Tuyên Quang, để đồng không để cô lập địch.
Biết cánh Liễu Thăng là quân chủ lực, ông sai Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lê
Văn Linh, Đinh Liệt mang quân phục ở Chi Lăng, lại sai Lê Văn An, Lê Lý
mang quân tiếp ứng. Đối với cánh quân Mộc Thạnh, ông biết Thạnh là viên
tướng lão luyện, sẽ ngồi chờ thắng bại của Liễu Thăng mới hành động nên
hạ lệnh cho Phạm Văn Xảo và Trịnh Khả cố thủ không đánh.
Tướng trấn giữ biên giới là Trần Lựu liên tục giả cách thua chạy từ Ải
Nam Quan về Ải Lưu rồi lại lui về Chi Lăng. Ngày 18 tháng 9 âm lịch,
Thăng đuổi đến Chi Lăng. Trần Lựu lại thua, Thăng đắc thắng mang 100
quân kị đi trước. Ngày 20, Thăng bị phục binh của Lê Sát, Trần Lựu đổ
ra chém chết.
Các tướng thừa dịp xông lên đánh địch, giết hơn 1 vạn quân, chém được
Lương Minh, Lý Khánh tự vẫn. Tướng Minh còn lại Hoàng Phúc, Thôi Tụ cố
kéo về thành Xương Giang thế thủ nhưng đến nơi mới biết thành đã bị
quân Lam Sơn hạ, phải đóng quân ngoài đồng không. Lê Lợi sai Trần
Nguyên Hãn chặn đường vận lương, sai Phạm Vấn, Nguyễn Xí tiếp ứng cho
Lê Sát cùng sáp đánh, giết 5 vạn quân Minh ở Xương Giang. Hoàng Phúc và
hơn 3 vạn quân bị bắt, Thôi Tụ không hàng bị giết.
Mộc Thạnh nghe tin Liễu Thăng thua bèn rút chạy. Phạm Văn Xảo, Trịnh
Khả đuổi theo chém hơn 1 vạn quân, bắt sống 1000 người ngựa.

Hội thề Đông Quan

Vương Thông nghe tin hai đạo viện binh bị đánh tan, sợ hãi xin
giảng hòa để rút quân. Lê Lợi đồng ý cho giảng hòa để quân Minh rút về
nước. Ông cùng Vương Thông tiến hành làm lễ thề trong thành Đông Quan,
hẹn đến tháng chạp âm lịch năm Đinh mùi (1427) rút quân về.
Lê Lợi đứng tên Trần Cảo là người đang làm vua trên danh nghĩa, sai sứ
dâng biểu cho nhà Minh xin được phong. Vua Minh biết Lê Lợi không có ý
tôn Cảo nhưng vì bị thua mãi nên đồng ý phong cho Trần Cảo làm An Nam
quốc vương.
Tháng chạp, Vương Thông rút quân về nước. Các tướng muốn giết địch để
trả thù tội ác khi cai trị Việt Nam, Lê Lợi không đồng tình vì muốn giữ
hòa khí hai nước, cấp thuyền và ngựa cho quân Minh về.

Lê Lợi lên ngôi vua

Lê Lợi sai Nguyễn Trãi thảo bài Bình Ngô đại cáo để bá cáo cho thiên hạ biết về việc đánh giặc Minh, được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai sau bài thơ Nam quốc sơn hà.
Sau khi quân Minh rút về, trên danh nghĩa Trần Cảo là vua Việt Nam.
Theo sử sách, đầu năm 1428, Trần Cảo tự biết mình không có công, lòng
người không theo nên bỏ trốn vào châu Ngọc Ma (vùng núi phía Tây),
nhưng không thoát, bị bắt mang về và bị ép uống thuốc độc chết. Một số
nhà nghiên cứu nghi ngờ việc Cảo phải tự bỏ trốn mà cho rằng các tướng
của Lê Lợi được lệnh sát hại Cảo, hoặc Cảo bị đe doạ phải bỏ trốn. Tuy
nhiên, suy cho cùng Trần Cảo cũng chỉ là con bài chính trị để Lê Lợi
đối phó với nhà Minh trong một giai đoạn cần thiết. Nhà Minh lấy lý do
lập con cháu nhà Trần thực chất chỉ là cớ để đánh nhà Hồ.
Lê Lợi lên ngôi hoàng đế năm 1428, tức là vua Lê Thái tổ, chính thức dựng lên nhà Hậu Lê.

Tham khảo

  • Việt Nam sử lược
  • Đại Việt thông sử
  • Đại Việt Sử ký Toàn thư


------------------------------------------------------------ Chữ ký của tôi ------------------------------------------------------------










Truy cập Công cụ Kiểm Tra Tốc Độ Đánh Máy và thử!

    Hôm nay: 29/7/2017, 2:01 am